Quả ớt: Vị thuốc giảm đau bị bỏ quên

Khi ớt dùng ở ngoài da (dưới dạng rượu hay dầu nóng…) nó là vị thuốc kích thích tại chỗ. Capsaicin gây giãn mạch, tăng lưu lượng máu cục bộ, làm tan máu bầm, giảm đau.
Ảnh minh họa
Ảnh minh họa
 
Ớt là gia vị khó có thể bỏ qua đối với người Việt Nam, nhất là đồng bào miền Trung. Món ăn thường ngày mà không có ớt đối với họ thật là điều nhạt nhẽo, vô vị. Ớt càng cay càng “hấp dẫn”. Chính vị cay làm cho ớt trở thành món ăn khó quên. Thế nhưng cũng chính vị cay của ớt lại đã và đang được cả thế giới đổ xô nghiên cứu và ứng dụng.
 
Chất capsaicin trong ớt
 
Quả ớt thuộc họ cà, Đông y gọi là lạt tiêu, lạt tử, ngưu giác tiêu (ớt sừng trâu), hải tiêu… Theo y học cổ truyền, ớt có vị cay, nóng, có tác dụng khoan trung, tán hàn, kiện tỳ, tiêu thực, chỉ thống (giảm đau).
 
Đặc tính sáng giá nhất của ớt chính là chất capsaicin có đặc điểm bốc hơi ở nhiệt độ cao, gây hắt hơi mạnh. Chất capsaicin trong ớt là hoạt chất gây đỏ và nóng, chỉ có khi quả ớt chín, chiếm tỷ lệ từ 0,01-0,1%.
 
Cảm giác cay mà chúng ta có được là do chất capsaicin kích thích não sản sinh ra chất endorphin, một chất morphin nội sinh, có đặc tính như những thuốc giảm đau, đặc biệt có ích cho những bệnh nhân bị viêm khớp mạn tính, bệnh đau đầu do thần kinh và các chứng đau do bệnh ung thư.
 
Capsaicin thúc đẩy sự tiết ra chất P, một neurotransmitter thông báo cho não bạn biết bạn đang bị đau. Tuy nhiên, tiếp xúc với capsaicin lâu sẽ làm giảm cảm giác đau. Vì lý do này, capsaicin đôi khi được sử dụng để làm giảm cơn đau khớp. Capsaicin cũng khích thích sự tiết ra endorphin, hóa chất khiến bạn cảm thấy khoái. Vì thế mà nhiều người bị nghiện ăn ớt.
 
Capsaicin có trong ớt cũng được ứng dụng để chế tạo những thuốc giảm đau, capsaicin làm giảm tác dụng của chất “P”, chất “P” có nhiệm vụ đưa tin đau từ da đến cột sống. Bằng cách chặn đường chất “P”, capsaicin có tác dụng như một chất giảm đau có tác dụng lâu và đã điều trị hiệu quả cho khoảng 75% bệnh nhân.
 
Khi ớt dùng ở ngoài da (dưới dạng rượu hay dầu nóng…) nó là vị thuốc kích thích tại chỗ. Capsaicin gây giãn mạch, tăng lưu lượng máu cục bộ, làm tan máu bầm, giảm đau.
 
Năm 1998 ở nước Anh có một loại thuốc tên Zacin. Thuốc được bào chế dưới dạng kem bôi chứa 0,025% capsaicin dùng để giảm đau trong viêm xương khớp. Kem được bôi ở khớp bị đau nhiều lần mỗi ngày, làm giảm chất P ở các dây thần kinh mang thông tin đến não. Đối với viêm khớp dạng thấp cũng thấy có tác dụng.
 
Kinh nghiệm dùng ớt trong điều trị đau lưng, khớp
 
– Trị đau lưng, đau khớp: Ớt chín 15 quả, lá đu đủ 3 lá, rễ chỉ thiên 80g. Tất cả đem giã nhỏ ngâm cồn với tỷ lệ 1/2, dùng để xoa bóp sẽ mau khỏi.
 
– Trị đau lưng, đau khớp: 15 trái ớt chín, lá đu đủ 20g, lá ngải cứu 20g, giã nhỏ, sau đó đem ngâm rượu nồng độ cao, xoa bóp thường xuyên vào chỗ đau nhức sẽ thuyên giảm được chứng bệnh.
 
– Trị đau lưng, đau khớp, đau dây thần kinh: Trái ớt giã nát, ngâm rượu trắng với tỉ lệ 1/2 ( Một phần ớt tươi, hai phần rượu) dùng xoa bóp chỗ đau.
 
– Trị đau nửa đầu (migraine): Một số nhà khoa học đã nghiên cứu dùng ớt nhỏ một giọt capsaicin vào lỗ mũi phía bên bị đau đầu của người bệnh, kết quả giảm đau thấy rõ. Khi nhỏ thuốc vào bên kia thì không xảy ra điều gì.
 
– Trị viêm khớp mãn tính: Ớt trái 1-2 quả, dây đau xương, thổ phục linh (củ khúc khắc) mỗi vị 30g. Sắc uống ngày 1 thang.
 
– Trị đau lưng: Cao dán ớt dùng điều trị các cơn đau như đau lưng, viêm khớp và các cơn đau cơ xương khác. Cao dán giúp cải thiện tuần hoàn máu, thư giãn cơ và giảm cơn đau. Sau khi rửa sạch và lau khô chỗ đau, dán tấm dán lên trong 24 giờ. Trước khi dán, nên thử test trước ở diện tích nhỏ để đề phòng quá nóng gây kích thích da. Cao dán sẽ lan tỏa hoạt chất dưới sức nóng của da. Không dùng với da nhạy cảm hoặc đang bị bệnh ngoài da.
 
Chỉ nên ăn một lượng vừa đủ
 
Lâu nay, chúng ta vẫn thường nghĩ ăn nhiều ớt sẽ gây loét dạ dày. Thế nhưng, nhiều cuộc nghiên cứu cho thấy ớt lại là thức ăn tốt cho những người bị loét dạ dày. Theo các chuyên gia, quả ớt có chứa chất capsaicin có tác dụng tiêu diệt các vi khuẩn gây loét dạ dày, ngăn chặn việc tạo ra a-xít chua, tăng lượng máu chảy vào niêm mạc dạ dày giúp ngừa tình trạng loét hoặc làm lành những vết loét.
 
Tuy nhiên, những người hay ợ chua thì không nên dùng ớt vì điều này có thể làm bệnh thêm nghiêm trọng.
 
Ớt tuy có nhiều tác dụng nhưng chỉ nên ăn ớt với một lượng vừa đủ, nếu ăn nhiều sẽ có hại cho sức khỏe. Các chất cay trong ớt sẽ kích thích niêm mạc dạ dày, gây đau bụng, đi ngoài và chảy máu nếu bị trĩ. Người bị viêm họng mãn tính, viêm loét dạ dày, người mắc bệnh trĩ không nên ăn ớt, hoặc ăn hạn chế.

Vị cay của ớt đúng là ngon và hấp dẫn nhưng phải ăn cay thế nào cho phù hợp để đảm bảo sức khỏe.

                                                                                                                     Nguồn: Xã Luận

Advertisements

Kinh nghiệm chế biến tương ớt của người dân Mường Khương

Kinh nghiệm chế biến tương ớt của người dân Mường Khương

Nhanh nhạy nắm bắt thị trường, nông dân vùng cao Mường Khương đã mở rộng diện tích trồng ớt, nâng cao chất lượng chế biến tương ớt và đưa sản phẩm đặc sản này có mặt ở thị trường nhiều tỉnh trong cả nước.

Ở huyện Mường Khương có loại quả ớt chín đỏ, quả nhỏ được người dân gọi là ớt thóc. Loại quả này nhỏ như hạt thóc, nhưng lại có vị cay đậm đà, hương thơm đặc trưng. Không chỉ phơi ớt để khô làm thức ăn lâu dài, người dân vùng cao ở đây, từ lâu đời đã chế biến những quả ớt tươi thành dạng tương, kết hợp với nhiều gia vị khác để làm nên một sản phẩm thơm ngon, mang đậm nét văn hóa vùng cao.

Việc sử dụng ớt trong bữa ăn ngoài làm gia vị còn có tác dụng làm nóng cơ thể, nhất là trong mùa đông giá lạnh ở vùng cao. Ngày nay, nhiều vùng trong cả nước, người dân cũng được thưởng thức vị cay, hương thơm của ớt Mường Khương với nhiều sản phẩm phong phú, như ớt tương, ớt xay, hay ớt quả khô. Nhanh nhạy nắm bắt thị trường, nông dân vùng cao Mường Khương đã mở rộng diện tích trồng cây ớt, nâng cao chất lượng chế biến tương ớt và đưa sản phẩm đặc sản này có mặt ở thị trường nhiều tỉnh trong cả nước.

Để chế biến được tương ớt thơm ngon, sử dụng được lâu, việc đầu tiên là lựa chọn nguyên liệu. Nguyên liệu chế biến gồm: ớt quả tươi, tỏi củ, hạt rau thì là, hạt rau mùi, thảo quả, quế, rượu, muối, nước, hạt dổi. Những nguyên liệu này đã tạo cho tương ớt Mường Khương hương vị đặc trưng, khác biệt với những địa phương khác. Mỗi chai tương ớt có đến cả chục gia vị khác nhau hòa quyện trong đó để tạo nên màu đỏ tươi, hương thơm đặc trưng và vị cay đậm đà chỉ có riêng ở tương ớt Mường Khương. Nguyên liệu chính là ớt quả tươi chín đỏ hoặc loại ớt tươi chín nhưng có màu vàng. Theo kinh nghiệm của người dân bản địa, ớt phải chín, không lấy quả xanh, quả héo, quả thối. Ớt được cắt bỏ cuống, rửa sạch và để ráo nước rồi mới chế biến. Trong các nguyên liệu chế biến tương ớt, tỏi phải bóc bỏ vỏ. Bóc vỏ tỏi không có nghĩa là nhặt sạch toàn bộ mà chỉ nhặt bỏ những vỏ lụa.

Hạt rau thì là, hạt rau mùi phải nhặt kỹ, tránh bị lẫn những hạt mốc, hạt không đảm bảo chất lượng. Trong khâu lựa chọn nguyên liệu này cần phải được thực hiện kỹ, nghiêm ngặt. Có như vậy mới đảm bảo cho tương ớt giữ được hương vị thơm ngon. Trong nguyên liệu chế biến tương ớt có thêm hạt dổi, vỏ quế khô, hạt thảo quả, muối ăn, rượu ngô. Các nguyên liệu này được trộn với tỷ lệ như sau: Chế biến 30 kg ớt quả tươi cần 100 gam hạt rau thì là, 100 gam hạt rau mùi, 50 gam hạt dổi, 3 kg tỏi đã nhặt sạch, 500 ml rượu ngô, 3 kg muối ăn, 50 gam quế, 50 gam thảo quả và 5 lít nước sôi để nguội.

Ớt quả được rửa sạch, để ráo nước rồi đưa vào xay, xay nhỏ quả ớt, có thể xay lẫn với tỏi để nguyên liệu được trộn đều. Các nguyên liệu như: hạt rau mùi, hạt rau thì là, hạt dổi, hạt thảo quả phải được rang chín, tạo mùi thơm đặc trưng. Sau đó, xay nhỏ riêng từng nguyên liệu này, rồi mới trộn đều vào thùng tương ớt đã xay nhuyễn cùng với rượu và nước đã pha với muối. Như vậy, bà con đã được một thùng tương ớt được chế biến theo cách làm của người dân bản địa của huyện Mường Khương.

Một “bí quyết” làm cho tương ớt sau khi chế biến giữ được lâu mà vẫn thơm ngon đó là phải dùng nước đun sôi để nguội pha muối, rồi hòa vào hỗn hợp ớt đã xay nhuyễn. Tương ớt đã pha trộn phải được đựng trong thùng gỗ hoặc thùng nhựa và có nắp đậy kín. Lưu ý là nắp đậy thùng ớt phải được làm bằng khăn mỏng, thoáng khí. Nếu đậy bằng những vật dụng kín, khi ủ từ 4 đến 5 ngày, tương ớt sẽ lên men, mở nắp sẽ bị trào ra ngoài. Hoặc tương ớt bị lên men, sẽ tạo khí ga, khi mở nắp có thể dẫn tới ớt bắn vào người, gây nguy hiểm.

Theo cách làm của người dân địa phương, thời gian ủ tương ớt khoảng 2 tháng thì ớt mới đủ ngấu, tạo hương vị thơm ngon và bảo quản được lâu dài. Tương ớt có vị cay đậm đà, hương thơm và có vị chua. Để tránh tương ớt bị lên men, cần chú ý hàng ngày phải đảo thùng ớt một đến hai lần. Nên chọn những chai đóng tương ớt loại nhỏ vừa phải, là loại chai nhựa, có dung tích từ 300 đến 500 ml. Chai, lọ để đóng tương ớt cần rửa sạch, để khô. Tương ớt đóng vào chai cần có nắp đậy kín. Việc chế biến tương ớt quan trọng nhất là giữ cho những dụng cụ đựng sản phẩm, chế biến sản phẩm phải luôn sạch và tuyệt đối không được dính mỡ. Nếu mỡ dính vào dụng cụ đựng sẽ làm cho tương ớt bị thối và hỏng.

Tương ớt bản địa Mường Khương được Trung tâm kiểm định chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm kiểm tra và cấp giấy chứng nhận là sản phẩm đạt vệ sinh an toàn thực phẩm. Sản phẩm tương ớt Mường Khương đáp ứng đúng, đủ các yêu cầu của người tiêu dùng. Sản phẩm được đóng chai, có mã số, mã vạch, những thông tin về sản phẩm, thời gian sử dụng…

Khi sản phẩm tương ớt Mường Khương được nhiều người biết đến, nông dân đã trồng trên quy mô lớn, tập trung lại để chế biến và bán khối lượng lớn ra thị trường. Hiện nay, huyện Mường Khương đang xây dựng vùng ớt nguyên liệu, phục vụ cho chế biến tương ớt truyền thống trên quy mô lớn.

Tương ớt Mường Khương được chế biến đúng theo bí quyết truyền thống luôn giữ được màu sắc đỏ tươi. Sản phẩm tương ớt Mường Khương không chỉ phục vụ tiêu thụ trong tỉnh mà các sản phẩm này đã có mặt ở nhiều địa phương trong cả nước. Những kinh nghiệm, kỹ thuật chế biến tương ớt theo cách làm của người dân bản địa Mường Khương đã, đang và sẽ góp phần lưu giữ những giá trị truyền thống văn hóa của cộng đồng các dân tộc Lào Cai./.

Lê Thị Thanh Hương

(Nguồn: Muongkhuong24h.com)

VẺ ĐẸP CỦA HOẠN THƯ TRONG TRUYỆN KIỀU

V ĐP CA HON THƯ TRONG TRUYN KIU

                                                                   ThS.Lê Như Bình

                                                   ĐH Hồng Đức, Thanh Hóa.

            Cũng như nhiều nhân vật trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, Hoạn Thư không chỉ được độc giả biết đến trong trang sách, mà đã bước ra cuộc đời, rất quen thuộc với cuộc sống con người Việt Nam. Hiện nay, không còn mấy những ý kiến coi đây là nhân vật tiêu biểu cho sự tàn bạo độc ác. Trong dân gian, hầu như chỉ nhìn nhận  Hoạn Thư là con người có tính ghen tuông cay nghiệt. Trong tiếng Việt, “hoạn thư” được dùng như một tính từ đồng nghĩa với ghen tuông.

Nhưng, nếu chỉ đánh giá Hoạn Thư là biểu tượng của sự ghen tuông thì liệu có phiến diện và thiếu công bằng không? Sự thật, người vợ của chàng Thúc đa tình còn mang trong lòng biết bao nỗi u buồn bất hạnh, bị sa vào những tình huống bất đắc dĩ, khó chịu nhất của “phận đàn bà” trên thế gian này. Và cũng chính khả năng ứng xử của vị phu nhân “họ Hoạn danh gia” đã tỏa sáng trí tuệ, nhân cách, đủ cho Nàng có sức sống trong mọi thời đại. Sau đây, xin bàn luận về những vẻ đẹp lấp lánh của  Hoạn Thư trong Truyện Kiều..

* * *

            1-  Thêm kẻ thứ ba, giữ nhà êm kín.

Cứ theo tiêu chí xưa, thì cuộc hôn nhân của Thúc Sinh và Hoạn Thư không được “môn đăng hộ đối” lắm. Chàng tuy cũng  là dòng dõi học trò (nòi thư hương), rồi bố là một nhà buôn, có ngôi hàng ở Lâm Truy, nhưng sao sánh được với gia thế nhà Nàng? (dòng họ Hoạn danh gia / Con quan Lại bộ). Họ kết tóc se tơ chỉ do duyên phận (Duyên Đằng thuận nẻo gió đưa) chứ không phải bắt đầu từ cái nhìn “sét đánh” tiết xuân như mối tình Kim – Kiều, hay “trước còn trăng gió, sau ra đá vàng”  như chuyện Thúc – Kiều.

            Trong cuộc hôn nhân này, có lẽ phần “hời” thuộc về  chàng Thúc. Anh ta vừa được làm “phò mã”, vừa có người nâng khăn sửa túi, trông coi cửa nhà, giàu có nết na “ở ăn thì nết cũng hay”; dù đi xa hàng năm, không bị hờn dỗi hay lên mặt như không ít chàng có vợ tiểu thư “danh gia vọng tộc”.

Nhưng, tất cả những ưu thế hiếm có ấy cũng không đủ để giữ chân người chồng vừa háo sắc, vừa quen thói bốc trời. Người vợ “cành vàng lá ngọc”, toàn tâm toàn ý lo việc nhà, bị  rơi vào cảnh đối mặt với kẻ “thứ ba”. Từ nghe vườn đã thêm hoa. Câu thơ của cụ Nguyễn hay nhưng với người trong cuộc thì ruột gan xát muối. Đành rằng cảnh chồng đèo bòng thêm bà bé không lạ gì trong xã hội  xưa, nhưng chắc được mấy bà cả lấy làm dễ chịu? Tuy nhiên, ngay từ đầu, Hoạn Thư cũng không có ý làm to chuyện. Nàng ý thức về vị thế, lòng bao dung của bề trên, “Cũng dung kẻ dưới mới là lượng trên”, và nếu ghen tuông ầm ĩ  là thiếu khôn ngoan, dễ mang tiếng xấu, “Dại chi chẳng giữ lấy nền,/ Tốt chi mà rước tiếng ghen vào mình”

            Chỗ này, khi cho rằng “Hoạn Thư ghen không phải vì không muốn cho chồng lấy vợ lẽ, mà vì Thúc Sinh đã vi phạm cái nền nếp của gia đình quý tộc”  là quá coi trọng nguyên nhân giai tầng xã hội. Chẳng nhẽ, khi chồng có thêm vợ bé thì người phụ nữ quý tộc thấy vui còn chỉ có người phụ nữ bình dân mới thấy “đau”? Tục ngữ đã từng đúc kết  “Ớt nào mà ớt chẳng cay…”. Tình cảnh miệng người thì lắm, tin nhà thì không: chồng  phản bội, lừa dối;  gia đình chồng lại xuôi chiều, qua mặt con dâu để cưới thêm vợ lẽ cho con trai, chắc chắn đã đốt nóng nỗi cay đắng thất vọng và càng kìm nén càng bùng lên dữ dội  trong lòng người vợ chính danh, (Lửa tâm càng dập càng nồng). GS. Trần Đình Sử, khi nghiên cứu về phép sóng đôi trong ngôn ngữ nghệ thuật của Truyện Kiều đã cảm nhận độ nóng của “ngọn lửa càng đốt càng cháy(…). Mỗi đợt sóng đôi là một cơn lửa cháy, càng cháy to, càng nguy hiểm”

Cũng nên thông cảm cho những dằn vặt toan tính kinh sợ, hiện lên trong đầu của phu nhân họ Hoạn:

Làm cho nhìn chẳng được nhau.

Làm cho đầy đọa cất đầu chẳng lên!

Làm cho trong thấy nhãn tiền.

Cho người buôn ván, bán thuyền biết tay.

       Hậu quả thường thấy trong cái tình cảnh trớ trêu này: hoặc có chuyện trả thù ông ăn chả bà ăn nem, hoặc sự phá phách tung hê “anh đi đàng anh, tôi đi đàng tôi”  hoặc nổ ra cuộc đánh ghen đổ máu, Kết cục, có thể, một gia đình sẽ đổ vỡ, những người hôm qua còn đầu gối tay ấp, hôm nay thành kẻ thù ra sức bêu riếu thóa mạ lẫn nhau. Chuyện riêng gia đình thành trò cho thiên hạ cười cợt đàm tiếu,

Những điều dễ đoán đó làm ta thật bất ngờ, rất đáng nể phục trong phương thức xử lí  thông minh khéo léo của Hoạn Thư. Người vợ, trong tình huống bị phụ tình này đã làm được những việc không phải ai cũng có thể vững tay co, giữ  cho gia đình ngoài kín trong êm như vậy.

Hãy xem một loạt giải pháp, chiến thuật được Hoạn Thư  thi hành

Không đối mặt với dư luận:

 Nỗi lòng kín chẳng ai hay,

Ngoài tai để  mặc gió bay mái ngoài…

Buồng đào khuya sớm thảnh thơi

Ra vào một mực nói cười như không…

Hoạn Thư quá rõ sự chính xác của dư luận. Và chuyện thực nhà mình đang cần che giấu, càng chống chế, càng lộ chuyện.

– Đối với những người  Mách tin ý cũng liệu bài tâng công, thì một mặt mắng át để bảo vệ chồng:

Tiểu thư nổi giận đùng đùng

Gớm tay thêu dệt ra lòng trêu ngươi!

Chồng tao nào phải như ai,

Điều này hẳn miệng những người thị phi.

một mặt trấn áp mạnh tay:

Đứa thì vả miệng, đứa thì bẻ răng. 

Và kết quả bước đầu đã đạt được:

Trong ngoài kín mít như bưng 

Nào ai còn dám nói năng một lời.

            – Khôn khéo, cố kìm nén, tránh xung đột vợ chồng trong cuộc hồi trang của Thúc sinh. Gặp nhau sau bao ngày xa cách, mong mỏi, còn gì tủi cực hơn khi người vợ phải nồng thắm với chồng chỉ bằng cái vẻ bề ngoài, bên trong thì một mình gặm nhấm cái nỗi chàng ở bạc nỗi mình chịu đen. Đưa ra giải pháp hợp lí đã khó nhưng vẫn còn dễ hơn việc thực hiện trong cuộc. Làm sao giữ được bình tĩnh khi nhìn thấy mặt con người đen bạc ra lòng trăng hoa. Người nhạy cảm như Hoạn Thư, thật chẳng dễ chịu gì khi phải cố gắng, “đêm ngày lòng những dặn lòng”, hết mức kìm nén trạng thái thần kinh nóng như thùng thuốc súng. Rồi có lúc, nàng cũng không nén được, cũng phải giở những lời đâu đâu để gạn hỏi chuyện Lâm Truy mà dư luận đang bàn tán. Cái mà người vợ mong chờ cũng đâu phải là quá đáng:  chỉ cần được chồng báo tin, được thú thật, để rồi được bao dung tha thứ một cách đàng hoàng.  Đáng tiếc là, chàng Thúc không phải là tri âm tri kỉ của vợ, tưởng mọi chuyện còn kín, hơn nữa thuộc loại nhát gan, lo sợ mọi việc đổ vỡ. Thành thử, vì sự im lặng của chàng, sau này người vợ tốt phải mang tiếng ghen tuông cay nghiệt, còn người tình vàng đá thì rơi vào tình cảnh nhục nhã ê chề.

Tuy nhiên, có thể nói trong trận chiến với “kẻ thứ ba”,  bước đầu Hoạn thư đã giành thắng lợi: Giữ cho cuộc thăm viếng của chồng diễn ra êm ái, (Tẩy trần vui chén thong dong,/ cười phấn cợt son, / Đèn khuya chung bóng trăng tròn sánh vai; bảo vệ danh dự cho mình; giữ tiếng cho chồng, cho gia đình; tránh xung đột và sứt mẻ tình cảm với chồng, tránh bị người ngoài lợi dụng, kích động, tránh đối mặt trực tiếp với dư luận, tránh bị sốc, cả giận mất khôn.  Tóm lại, Hoạn Thư đã đạt được ý định: giữ cho gia đình ngoài kín trong êm, và tạo điều kiện cho bước quyết liệt tiếp theo.

2.  Dằn mặt tình địch, dạy đức ông chồng

Có thể đặt câu hỏi: tại sao Hoạn Thư không giữ chồng ở nhà mà lại giục đi Lâm Truy? Và tại sao lại không thủ tiêu Thúy Kiều, cái việc không quá khó đối với một con quan Lại bộ ? Hoặc, tại sao không gây sức ép để Thúy Kiều ngay từ đầu phải cao chạy xa bay? Và tại sao lại đưa Thúy Kiều về nhà khác gì tạo điều kiện cho lửa gần rơm ?

Thực ra, Hoạn Thư thừa biết bên mình hiện chỉ là cái xác, còn  hồn vía của chàng Thúc còn đang gửi ở Lâm Truy (vợ vừa nhủ qua mà chồng đã vó câu thẳng ruổi nước non quê người). Cho nên, dù không để cho Thúc sinh đi cũng chỉ là chuyện “đười ươi giữ ống”. Thứ hai, nếu thủ tiêu Thúy Kiều, không may lộ chuyện thì có còn giữ được chồng, được gia đình nữa hay không? Hơn nữa, Hoạn Thư không phải là kiểu người ghen tuông tàn bạo thú tính như Lữ Hậu thời Tây Hán,Trung Quốc, (biến vợ bé của chồng thành “con người lợn”, rồi hành hạ cho đến chết). Còn nếu Thúy Kiều bỏ trốn lúc này có chắc là Thúc sinh đã dứt tơ lòng với người tình đá vàng? Vì vậy, Hoạn Thư đã chọn giải pháp bắt cóc, đem dây xích buộc chân Nàng về, để trị tội cho bõ ghét.  .

Sự việc diễn ra như trong truyện ta đã biết. Bầy Ưng Khuyển theo lệnh chủ, đã bắt Thúy Kiều, phóng hỏa đốt nhà, tạo hiện trường giả “người chết”. Rồi Thúy Kiều bị “một phen mưa gió tan tành”, bị đánh đòn “thịt nát gan kinh”,  bị bắt làm thị tì ở nhà quan Lại bộ, bị ép làm con hầu ở nhà Hoạn Thư. Việc hành hạ thể xác của Kiều, thừa điều kiện để xuống tay như Lữ Hậu, nhưng Hoạn Thư cũng chỉ dừng đến đấy. Về cơ bản, coi như kẻ tình địch đã bị trừng trị. Trước khi Thúc Sinh về, Hoạn Thư đã có phần nguôi giận đối với Thúy Kiều (thương tài / khuôn uy …bớt vài bốn phân). Thực ra, gay gắt cay nghiệt với Thúy Kiều chỉ là chuyện giận cá chém thớt, chứ trong thâm tâm người mà  Hoạn Thư  muốn bắt về trị tội, muốn cho biết tay chính là cái người thăm ván bán thuyền. Cho nên, khi nghĩ về cái sự buồn của nhà, Hoạn Thư có trách là trách người đen bạc ra lòng trăng hoa; có đau là đau  nỗi chàng ở bạc… Không khi nào hình ảnh Thúy Kiều hiện lên trực tiếp như một đối tượng chủ yếu trong nỗi bực dọc của Hoạn thư.

Và, để ép Thúc sinh “tự nguyện” trở về “chịu tội”, biện pháp đốt nhà, tạo hiện trường “chết giả” là hiệu quả nhất. Khi người tình không còn nữa, nỗi đau đớn, nhớ thương có phần nguôi ngoai là lúc chàng Thúc

Chạnh lòng nhớ cảnh gia hương,

Nhớ quê chàng lại tìm đường thăm quê.

            Thời điểm tổ chức lễ “đón tiếp” được chọn  ngay khi Thúc Sinh vừa tới nhà là rất có dụng ý. Không chỉ vì tâm trạng căng thẳng sốt ruột phải ra tay lập tức, mà  người vợ cao tay muốn có một cuộc chạm trán bất ngờ, choáng váng, khiến anh chồng không kịp có thông tin, không kịp trở tay, bị bắt tận tay, bị day tận mặt mà không dám hé răng. Và chuyện phải xảy ra đã xảy ra: “Cùng trong một tiếng tơ đồng / Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm. / Rõ ràng thật lứa đôi ta,/ Làm ra con ở chúa nhà đôi nơi”. Người đánh ghen tha hồ hỏi tra, thét, bắt  “kẻ thứ ba” phải khoan,  nhặt,  quỳ tật mặt, mời tận tay, phải đánh đàn, phải mời rượu. Còn kẻ trăng hoa  phải phách lạc hồn xiêu / như dại như ngây / gan héo ruột đầy/ càng nghĩ càng cay đắng lòng; giả say dạm lời lảng ra cũng không xong; mắt lả chã mà cũng không dám khóc, miệng muốn than mà phải gượng nói gượng cười. Thật là bi hài, khi không còn nén được, bật khóc vì người tình, chàng Thúc lại phải “khai” liều là khóc vì hiếu phục…đau lòng chung thiên. Có lẽ, trên đời này hiếm có người vợ “ điều trị” cái bệnh đen bạc của chồng một cách vừa cay độc (nặng như chì)  vừa nhẹ nhàng (nhẹ như bấc) mà hết sức hiệu quả như vậy.  

Nhìn  đôi tình nhân “quằn quại” trong cảnh con ở chúa nhà đôi nơi, nát ruột tan hồn, Hoạn Thư dường như đã cơn hờn, dịu bớt nỗi đau (Tiểu thư nhìn mặt dường đà cam tâm, / Lòng riêng tấp tễnh mừng thầm: Vui này đã bõ đau ngầm xưa nay). Nhưng tại sao ngay lúc đó Hoạn Thư  chẳng những không đẩy Thúy Kiều đi mà còn cho quy Phật ngay trong nhà mình? Dù có đủ người để canh giữ, nhưng tình địch ở ngay trong nhà, liệu cảnh “lửa gần rơm”  có tái diễn?  Và  tái diễn thật. Tiểu thư phải buổi vấn an về nhà / Thừa cơ Sinh mới lẻn ra, Xăm xăm đến mé vườn hoa với nàng,/ Sụt sùi giở nỗi đoạn trường,/ Giọt châu tầm tả đượm tràng áo xanh.

Có phải đây là nước cờ sơ hở của Hoạn Thư chăng? Chắc là không!? Như trên đã nói, Hoạn Thư nhẹ tay đối với Kiều, bởi có biệt nhỡn liên tài, có tấm lòng yêu ghét phân minh, “Tiểu thư xem cũng thương tài / Khuôn uy dường cũng bớt vài bốn phân”. Với Hoạn Thư, ba con người trong Thúy Kiều luôn được phân định: kẻ tình địch, bậc tài hoa, người mắc nạn. Cho nên, kẻ tình địch thì ghét, người mắc nạn thì thương, còn bậc tài hoa thì vừa thương vừa trọng. Lúc trước, bớt gay gắt với Kiều vì thương tài, còn hiện tại, vì như Hoạn Thư nói với Thúc sinh (nhưng thực ra cũng là tự nhủ lòng mình): tài nên trọng mà tình nên thương. Rồi nàng còn công khai khen tình địch trước mặt chồng: “Ví chăng có số giàu sang,/ Giá này dẫu đúc nhà vàng cũng nên”. Trên đời này, dễ mấy ai đủ bản lĩnh để đưa ra một lời khen tuyệt đỉnh về kẻ thù như như vậy? Đấy chính là một nhân cách hiếm có, là cái  khuôn uy  bền chắc khiến cho chàng Thúc phải nể phục, phải sợ, phải bó tay. Việc bố trí cho Thúy Kiều ra ở Quan âm các vườn ta  thực ra không phải để tiếp tục trả thù, ngoài nguyên cớ thương tài  như đã nói trên, còn là giải pháp tạm thời cách li có kiểm soát Thúc Sinh với Thúy Kiều. Nhưng quan trọng, đây là nước cờ chiếu hết. Chuyện vấn an về nhà chỉ là phép thử cuối cùng để khẳng định lòng dạ của Thúc –Kiều. Đâu có đi vấn an, mà tiểu thư đang nhón chân đứng nép, kiên nhẫn đến nửa giờ (tính theo giờ tây là khoảng một tiếng đồng hồ) nghe anh, ả sụt sùi khóc than. Mãi cho đến khi nghe Kiều hở ra ý trốn chạy: :Liệu mà mở của cho ra, / Ấy là tình nặng ấy là ơn sâu”; rồi Thúc Sinh quyết dứt tình: “Liệu mà cao chạy xa bay,/ Ái ân ta có ngần này mà thôi” Hoạn Thư mới xuất hiện. Nhìn vẻ mặt và cử chỉ vui vẻ, mãn nguyện (Cười cười nói nói ngọt ngào), nghe lời khen ngợi, tiếc nuối của Hoạn Thư đối với tài năng của Thúy Kiều “Nghìn vàng thật cũng nên mua lấy tài”, rồi chứng kiến cảnh nàng cùng chồng thong dong nối gót thư trai cùng về, ta thấy người vợ thông minh tuyệt vời này đã nắm chắc phần thắng lợi. Việc còn lại chỉ còn là gia ân, là tạo sơ hở giả để Thúy Kiều bỏ trốn mà thôi. Đó là thắng lợi của trí tuệ khôn khéo, của bản lĩnh phi thường, thắng lợi của một nhân cách cao thượng đáng khâm phục. Chính Thúy Kiều, khi nghĩ lại, hết sức kinh hãi, nhưng cũng vô cùng cảm phục: “Thực tang, bắt được dường này,/ Máu ghen ai cũng chau mày nghiến răng. / Thế mà im chẳng đãi đằng,/ Chào mời vui vẻ, nói năng dịu dàng”. Và cũng thật đáng ghen với chàng Thúc, một tay khoác lác, nhát gan mà số đỏ, được cả hai người phụ nữ đáng giá nghìn vàng yêu thương và trân trọng, (trong khi vì dây dưa với chàng, cả hai đã xuýt mất mạng).

             3.  Thoát án tử hình, chỉ ba tấc lưỡi

Đúng là trái đất to mà cũng không khác gì miệng chén. Hai đối thủ không đội trời chung đã quyết dứt tình năm xưa có ngờ đâu lại có ngày tái ngộ, mà tái ngộ trong vị thế đảo chiều. Trước đây là “con ở, chúa nhà” còn bây giờ là quan tòa và kẻ tội phạm. Khi trở thành phu nhân bên cạnh anh hùng Từ Hải là lúc Thúy Kiều nghĩ đến ân oán trên đời, và người bị oán đầu tiên là Hoạn Thư. Như vậy, trong bao nhiêu kẻ gây ra nỗi bất hạnh cho mình, Kiều tỏ ra ấm ức, căm ghét Hoạn Thư nhất. Kiều không giấu nổi vẻ cay cú khi nói chuyện với Thúc Sinh “Vợ chàng quỷ quái tinh ma,/ phen này kẻ cắp bà già gặp nhau”; chưa xử mà đã chuẩn bị pháp trường tử hình tội phạm, “Dưới cờ gươm tuốt nắp ra/ Chính danh thủ phạm, tên là Hoạn Thư”. Cũng nên thông cảm cho Kiều, nhưng dù sao, đây cũng là chỗ nông cạn, kém cỏi của Nàng so với Hoạn Thư. Chỗ này xin nói vào dịp khác.

Về phía Hoạn Thư, có thể coi là một dịp nữa thử thách trí tuệ và bản lĩnh của người phụ nữ tài ba này. Nhìn cử chỉ, nghe giọng ngọt nhạt mỉa mai đay nghiến của Thúy Kiều: “Thoắt trong nàng đã chào thưa,/ “Tiểu thư cũng có bây giờ  đến đây./ Đàn bà dễ có mấy tay,/ Đời xưa mấy mặt đời này mấy gan./ Dễ dàng là thói hồng nhan./ Càng cay nghiệt lắm càng oan trái nhiều”,  cũng phải lo thay cho Hoạn Thư, người đang đối mặt với tình thế ngàn cân treo sợi tóc. Không có thời gian để nghĩ suy, cân nhắc;  không có bố mẹ để bàn bạc nhờ vả như lúc ứng phó với anh chồng phụ bạc; dù đang bên cạnh, cũng chẳng trông cậy gì được ở anh chồng “mặt như chàm đổ mình dường dẽ run”. Sống chết giờ đây chỉ trong khoảnh khắc và phụ thuộc hoàn toàn vào sự lanh lợi khôn khéo của bản thân. Và diễn biến phiên tòa đã khẳng định phẩm chất ấy của Hoạn Thư. Dù lúc đầu hồn lạc phách siêu, choáng váng trước một bản án nặng nề, Hoạn Thư vẫn còn đủ can đảm để “khấu đầu dưới trướng liệu điều kêu ca”. Và đây là toàn văn bài tự  bào chữa của “luật sư – tội phạm” Hoạn Thư:

Rằng: “Tôi chút phận đàn bà,

Ghen tuông thì cũng, người ta thường tình.

Nghĩ cho khi các viết kinh,

Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo.

Lòng riêng riêng những kính yêu,

                                       Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai.

                                                Trót đà gây việc chông gai,

                                    Còn  nhờ lượng bể thương bài nào chăng.”

Điều cần bàn là những điều kêu ca  sắc sảo đến mức nào mà khiến cho kẻ tử tù được trắng án trong gang tấc?

            Có thể thấy lời bào chữa ngắn chỉ là tám câu lục bát, nhưng đã bao gồm bốn luận điểm rất có tình có lí thật khó bác bỏ. Ở đây “bị cáo” đã:

– Khẳng định mình vô tội. Cái mà quan tòa quy tội: “kẻ cắp”, quỷ quái tinh ma, thói hồng nhan, cay nghiệt lắm, thực ra chỉ là chuyện ghen tuông thường tình của đàn bà. Luận điểm vừa bác lại cáo trạng, vừa tác động đến tâm lí của quan tòa (cũng là một hồng nhan, không thể không đồng cảm).

–  Nêu chuyện “khi các viết kinh”,  ngầm nhắc lại công trạng của mình đối với Thúy Kiều: cho ra ở các Quan âm (không phải làm thị tì); đến khi bỏ trốn, cũng gác bỏ thù oán, không truy bắt  gắt gao. Ở đây, Hoạn Thư còn ý tứ  không tố rõ việc mất cắp đồ kim ngân, tránh làm cho Thúy Kiều mất mặt, (thực ra, Hoạn Thư cũng hiểu Kiều không thể quên việc này). Những sự việc trên, chính quan tòa là nhân chứng nên không thể không thừa nhận.

–  Chất vấn: khi bị rơi vào cảnh chồng chung, đã ai nhường cho ai?  Câu hỏi có tính chất khẳng định  hướng vào Thúy Kiều, người đã từng trải nghiệm cái cảnh giấm chua. Khiến cho nàng Kiều, dù bây giờ đang ngồi ghế quan tòa cũng không thể không đặt mình vào hoàn cảnh ấy mà suy ngẫm.

– Thừa nhận gây ra việc chông gai, xin quan tòa rộng lượng tha thứ. Bị cáo khôn khéo tận dụng “tình tiết giảm nhẹ” (thành khẩn nhận tội), vừa tranh thủ cảm tình của quan tòa (khen người xét xử có lượng bể); vừa gây được ấn tượng chừng mực (chỉ xin thương bài nào chăng). Chắc rằng quan tòa không thể không vui lòng, dù có biết được “nịnh khéo”.

Quả thật, “văn bản bào chữa” là một bài văn nghị luận mẫu mực: lời mạch lạc khúc chiết; ý sắc sảo trí tuệ; lập luận chặt chẽ lô-gic; tình kín đáo chân thành, thái độ nghiêm túc khiêm tốn. Và điều mấu chốt là bị cáo đã đẩy quan tòa vào thế bị động như Thúy Kiều đã tự nhận: “Làm ra mang tiếng con người nhỏ nhen”.

Không phải ngẫu nhiên mà Thúy Kiều đã phải công khai khen kẻ cựu thù của mình: “Khôn ngoan nhất mực, nói năng phải lời”, và lập tức cho hủy bản án tử hình: “Truyền quân lệnh xuống trước tiền tha ngay”.

Rõ ràng, đây không chỉ là văn chương mà là bản lĩnh, là trí tuệ, là nhân cách đã cứu Hoạn Thư thoát chết.

Nhưng, tiện đây cũng phải nói thêm, may mà Hoạn Thư đã gặp một Bao công thực sự. Vừa là nguyên đơn, vừa là chánh án, nhưng Thúy Kiều tỏ ra là một quan tòa công tâm nhất mực: thượng tôn pháp luật, phân biệt công lí và tư thù. Quả là trong Truyện Kiều có hai người đàn bà dũng cảm, cao thượng hết mực: một người dám công khai khen tình địch trước mặt chồng, và một người dám khen kẻ thù trước ba quân thiên hạ.

***

Sứ mệnh cao cả của văn chương là tôn vinh vẻ đẹp của con người. Càng  đọc Kiều của Cụ Nguyễn Du càng thấm thía điều đó. Nếu như ở Thúy Kiều, chủ yếu lấp lánh vẻ đẹp của tài hoa nhan sắc, của tâm hồn, thì ở Hoạn Thư, chủ yếu tỏa sáng vẻ đẹp của một trí tuệ khôn khéo, một bản lĩnh phi thường. Nhưng điều đáng nói là, cách ứng xử cao thượng đầy nhân tính, kể cả với kẻ thù, là ánh hào quang rực rỡ  tôn vinh hai nhân vật phụ nữ độc đáo nhất trong thiên truyện bất hủ này.


DÂY CHUYỀN SẢN XUẤT TƯƠNG ỚT SẠCH

Dây chuyền tương ớt sạch
 DCTuongot.jpg

  • Công dụng: Chế biến tương ớt.

Thông số kỹ thuật dây chuyền tương ớt

Bao gồm các thiết bị :

1- Máng rửa liệu + Gầu tải

  • Năng suất: 10 – 15 Kg/ph.
  • Công suất motor: 1,5 HP.
  • Tốc độ vô cấp : 10 – 30v/ph.

2- Máy nghiền

  • Chế tạo mới theo model SK-270D (Thụy Sĩ)

3- Nồi nấu

  • Dung tích nấu: 500 lít.
  • Motor khuấy; 1,5 KW, 25 v/ph.
  • Bơm chân không: 3 KW.

4- Thiết bị làm nguội

  • Toàn bộ máy bằng inox SUS304.
  • Nhiệt độ tương vào/ra : 900C/600C.
  • Lưu lượng tương: 1Kg/s.

5- Máy đóng chai

  • Thể tích đóng tốI đa: 1 lít (có kèm băng tải).

6- Máy đóng nắp

  • Công suất: 40 – 60 chai/phút.

7- Máy dán nhãn

  • Công suất: 40 – 60 chai/phút.
  • Tốc độ băng tải: 38m/ph.
  • Motor băng tảI: 0,18 KW.
  • Motor dán nhãn: 90 W.

8- Thiết bị đồng bộ

  • Gồm: Bơm, đường ống, lò hơi

TƯƠNG ỚT CHỮA TIỂU ĐƯỜNG VÀ BỆNH TIM MẠCH

Tương ớt – một thành phần không thể thiếu trong ẩm thực của các nước châu Á và Thái Bình Dương, có thể là liều thuốc quý trong hỗ trợ điều trị bệnh tiểu đường và các bệnh về tim mạch.

Tương ớt chữa tiểu đường và bệnh tim mạch
Nghiên cứu trên, do các nhà khoa học tại bang Tasmania, Australia tiến hành, cho thấy trong tương ớt có hai thành phần hữu dụng có thể làm giảm những tác nhân gây ra tiểu đường ở người.

Đối với các bệnh về tim mạch, các nhà nghiên cứu cho biết các hóa chất có trong tương ớt sẽ hỗ trợ giảm thiểu và ngăn chặn sự hình thành các khối mỡ thừa trong các mạch máu, nguyên nhân gây ra bệnh nhồi máu cơ tim, đột quỵ và tai biến, đảm bảo sự thông thoáng lưu thông máu trong cơ thể.

Tiến sỹ Madeline Ball cho biết đây là lần đầu tiên kết quả nghiên cứu này được công bố trên thế giới.

Bà cho biết kết quả này sẽ thu hút sự chú ý từ các nước phát triển, đặc biệt là Mỹ bởi “họ luôn quan tâm tới thực phẩm và tác dụng của chúng. Đối với những người béo phì, tiểu đường tại nhiều quốc gia thì đây quả là một thông tin hết sức bổ ích”.

Nguồn: Vietnam+

TƯƠNG ỚT SẠCH ” HOẠN THƯ ” GIA VỊ CỦA NGƯỜI VIỆT, VÌ SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG

Thông tin sản phẩm

Tương ớt Sạch Hoạn Thư được chế biến theo phương pháp cổ truyền. Không dùng chất bảo quản, chất phụ gia và các chất độn độc hại… Hương sắc tự nhiên. Vị cay hậu, không sử dụng màu thực phẩm, tuyệt đối an toàn cho sức khỏe người tiêu dùng.

Hòa lẫn với những hạt muối tinh khiết , những trái ớt tươi chọn lọc được lên men theo một chu trình đặc biệt tạo nên màu đỏ tự nhiên mịn màng, mùi thơm dịu độc đáo và hương vị cay ngon vô cùng hấp dẫn mà bạn không thể tìm thấy ở bất cứ nơi nào khác.

Thành phần: 100% ớt tươi, muối, nước lọc, dầu thực vật.
Chỉ tiêu chính (G%): Hàm lượng chất khô >13
Chỉ tiêu sinh vật: Theo quy định của Bộ y tế.
Bảo quản và sử dụng: Đậy kín chai sau mỗi lần mở nút, để nơi khô và mát, tránh nắng, nóng. Lắc đều trước khi rót
Cam kết vì sức khoẻ cộng đồng!